Hội chứng CHẾT SỚM EMS/AHPND

Adv thuysan247
Hội chứng chết sớm EMS làm thiệt hại lớn cho ngành nuôi tôm công nghiệp trên toàn thế giới.

Hội chứng chết sớm EMS làm thiệt hại lớn cho ngành nuôi tôm công nghiệp trên toàn thế giới.

thuysan247.com

1. Lịch sử:

Năm 2013, sản lượng tôm thế giới giảm khoảng 15% so với năm 2011. Nếu ngành dự kiến tăng trưởng 5%/năm, sản lượng thực tế dưới mức kỳ vọng 23%. Sản lượng tôm toàn cầu dự kiến đạt khoảng 4 triệu tấn/năm. Nếu giảm 25%, có nghĩa là giảm 1 triệu tấn. 1 triệu tấn tương đương với 1 tỷ kilogram. Giả sử 5 USD/kg, ngành nuôi tôm nuôi đã mất khoảng 5 tỷ USD.

Các quốc gia bùng phát dịch EMS/AHPND đầu tiên trên thế giới

2. Tác nhân

Ngộ độc độc tố vi khuẩn hoặc tảo do:

(i) Tôm giống nhiễm các vi khuẩn Vibrio paraheamolyticus có nhiễm phage (Lighner), Vibrio harveyii (Chalor Limsuwan). Vi khuẩn sinh ra độc tố liên kết với mô gan tụy làm hư hoại cơ quan này.

(ii) Điều kiện nuôi kém, tôm nhiễm vi khuẩn gây bệnh tại ao hoặc tiếp xúc với môi trường nhiều chất độc (tảo độc, khí độc) từ sớm làm tôm suy yếu và nhạy cảm hơn với mầm bệnh.

Nước ao nuôi nhiễm tảo lam từ trước khi thả giống, tôm chết 40 ngày sau khi thả

Diễn tiến của EMS/AHPND gây ra bởi Vibrio paraheamolyticus có nhiễm phage khác với các bệnh gây ra bởi vi khuẩn thông thường. Vibrio paraheamolyticus có nhiễm phage tiết ra độc tố làm tôm yếu, mất sức đề kháng và chết do đợt nhiễm khuẩn thứ 2 trong khi vi khuẩn thông thường trực tiếp xâm nhập, tăng sinh, gây bệnh và gây chết tôm.

3. Dấu hiệu bệnh lý

Chết trong giai đoạn từ lúc thả tới 45 ngày tuổi. Tỉ lệ chết lên tới 40% trong 5 – 7 ngày.

Các dấu hiệu dễ nhận biết:

  • Giai đoạn đầu, quan sát gan tụy thấy hiện tượng giảm kích thước hoặc sưng to, màu nhạt khác thường (bình thường có màu nâu vàng). Bệnh càng nặng kích thước gan tụy tôm càng nhỏ, màu sắc càng nhạt.
  • Tôm mền vỏ, trống ruột hoặc ruột có dịch lỏng, bỏ ăn, lờ đờ.
  • Đục cơ.
  • Tế bào sắc tố trương to nên nhìn tôm có màu khá sậm bất chấp màu nước. Nhiều trường hợp tôm có các vạch trắng đục ngang thân.
  • Tôm yếu, nhiễm ngoại sinh vật bám rất nặng.

Gan tụy tôm sú và tôm thẻ nhiễm bệnh EMS/AHPND chuyển sang màu trắng, dai và ruột trống

4. Chuẩn đoán bệnh

  • Soi mẫu ép tươi mô gan tụy dưới kính hiển vi.

Ống gan tụy bình thường phủ bởi hàng loạt các giọt lipit nhỏ nên không thể nhìn thấy các loại tế bào cấu tạo khi ép tươi nên khi nhìn thấy các tế bào nghĩa là giọt dầu đã không đủ, gan tụy đã bắt đầu bất bình thường.

Khi nhìn thấy các hạt tròn trong mẫu ép tươi nghĩa là tế bào gan tụy đã bị bong tróc, tình trạng bệnh đã chuyển nặng .

Mẫu ép tươi gan tụy tôm thẻ khỏe mạnh dưới kính hiển vi, thấy các giọt dầu phủ đầy ống gan tụy

Tôm bệnh EMS, gan tụy có giọt dầu biến mất khá nhiều, lumen trong ống gan tụy bong tróc

Khi gan tụy hư hoại, phân hủy thì các ống dẫn bên trong ống gan tụy tróc ra có hình dạng giống như con giun (vermiform) (hình bên phải). Khi gan tụy bắt đầu hư hoại nặng, các ống dẫn này xuất hiện nhiều, kết thành khối màu vàng, trôi xuống ruột (hình bên trái). Các tế bào cấu tạo ống gan tụy bong tróc ra, tạo thành các hạt tròn, kích thước khác nhau (hình dưới, X100)

Mẫu ép tươi gan tụy tôm giống nhiễm EMS/AHPND

 Tôm nhiễm EMS/AHPND từ giống

  • Quan sát gan tụy tại ao:

(1) Giai đoạn đầu của bệnh, chổ nối giữa dạ dày và gan tụy bị mờ đục, đường ruột vẫn đầy thức ăn, màu gan bình thường. (2) Tiếp sau, khoảng mờ giữa dạ dày và gan tụy rộng hơn, gan đổi màu, dạ dày có thể xuất hiện màu đỏ hoặc chuyển đục, có hoặc không có thức ăn. (3) Khoảng mờ giữa dạ dày và gan tụy rộng hơn, gan tụy giảm kích thước nhạt màu và mờ, không có thức ăn trong dạ dày, ruột lỏng hoặc chuyển sang đó, tôm lờ đờ, bỏ ăn. (4) Gan tụy teo hoàn toàn (tôm bên trái), trống dạ dày, trống ruột, phần nối giữa giáp đầu ngực và thân tôm nới rộng, tôm rất yếu. Các giai đoạn của bệnh có thể cùng xuất hiện trong đàn tôm.

Bên cạnh quan sát gan tụy tôm, vài dấu hiệu trước tiên của EMS/AHPND tại ao có thể bắt gặp gồm:

(i) Giảm lượng khoáng chất trong nước nuôi:

(ii) Giảm độ trong xuống < 30cm.

(iii) Oxy hòa tan < 5ppm trong suốt tháng nuôi đầu tiên sau khi thả giống.

(iv) pH dao động trong ngày hơn 0,3.

(v) Khí độc NH3 xuất hiện từ rất sớm trong thời gian nuôi.

(vI) Tôm bị phân trắng kéo dài.

Tôm bệnh, sử dụng thức ăn không hiệu quả, gây dư thừa thức ăn là nguyên nhân chủ yếu làm tảo bùng phát trong ao.

Phân nát trong vó cho thấy tình trạng tiêu hóa của tôm rất kém

  • Mô bệnh học EMS:

Gan tụy nhiễm độc tố vi khuẩn làm các tế bào (B, R, F) trên ống gan tụy bong tróc, hư hoại, các tế bào E ngừng phân chia.

Các tế bào ống gan tụy bong tróc tạo thành môi trường thích hợp cho đợt vi khuẩn thứ 2 phát triển, phá hủy hoàn toàn gan tụy.

Mô bệnh học mô gan tụy bình thường của tôm thẻ chân trắng P. vannamei, nhuộm H&E, 20X. (Nguồn: Đào Thị Thanh Huệ)

Mô bệnh học mô gan tụy bình thường của tôm thẻ chân trắng P. vannamei, nhuộm H&E, cho thấy tế bào B, R, F, 40x. (Nguồn: Đào Thị Thanh Huệ)

Mô bệnh học mô gan tụy bình thường của tôm thẻ chân trắng P. vannamei, nhuộm H&E, cho thấy tế bào B, R, F, 20x. (Nguồn: Đào Thị Thanh Huệ)

Mô gan tụy tôm thẻ chân trắng nhiễm EMS/AHPND giai đoạn cấp tính tại Mexico cho thấy các tế bào trên thành ống gan tụy bong tróc ra, rôi vào trong ống

4. Lây truyền

Lây truyền qua đường ăn, ngâm và lưu trú trong hệ thống tiêu hóa (ngang).

Từ bố mẹ sang con (dọc).

5. Chống lại EMS/AHPND:

  • Lựa chọn giống khỏe mạnh:

Tham khảo 9 tiêu chuẩn chọn giống dưới kính hiển vi và 9 tiêu chuẩn chọn giống bằng quan sát.

  • Kiểm tra mật số vi khuẩn trên tôm giống trước khi thả nuôi:

Cấy khuẩn và kiểm tra tổng khuẩn lạc mẫu gan tụy tôm giống, nước nuôi. Tiêu chuẩn như sau:

Khuẩn lạc của vi khuẩn gây EMS/AHPND V. paraheamololitycus ≤ 30 CFU/g; khuẩn lạc gây phát sáng do V. harveyii = 0 CFU/g. Không có vi khuẩn phát sáng trên đĩa thạch

Theo nghiên cứu của Thái Lan:

  1. Gan tôm có màu nâu chứa 3,5x103 CFU/g, không bị EMS và có tỉ lệ sống cao.
  2. Gan tôm có màu trắng chứa 6,02x107 CFU/g, chết trong vòng 10 ngày sau khi thả.
  3. Gan tôm có màu nâu và trắng có mật độ nhiễm khuẩn thấp, tỉ lệ sống tùy thuộc vào điều kiện ao.
  • Tại vùng nuôi

(i) Cải tạo ao đảm bảo an toàn sinh học, đảm bảo mật số vi khuẩn thấp trước khi thả tôm vì:

Tôm giống tại trại giống được cho ăn 8 cữ/ngày bằng thức ăn nhân tạo và artemia. Do thức ăn tôm giống lơ lững trong tầng nước và lượng cho ăn là tính theo thể tích nước chứ không dựa trên trọng lượng thân nên hiệu quả bắt mồi của tôm cao.

Khi chuyển ra ao, người nuôi thường chỉ cho ăn 2 – 4 cữ/ngày nhưng tôm còn nhỏ nên hầu như ăn thức ăn không hiệu quả (do không bắt được mảnh thức ăn trong một thể tích nước quá lớn). Tuy nhiên tôm vẫn ăn liên tục và sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao (như tảo, copepod, giun nhiều tơ). Do đó, nếu đáy và nước ao bị nhiễm Vibrio, tôm cũng sẽ bị nhiễm vào ống tiêu hóa.

Chỉ thả tôm khi các chỉ tiêu nước đạt yêu cầu và thức ăn tự nhiên hiện diện trong ao (có giun đáy hoặc copepod hoặc tảo silic hoặc cả ba). Khi đó tôm giống có thể sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên này khi chưa ăn thức ăn công nghiệp hiệu quả.

Bổ sung dinh dưỡng định kỳ để duy trì màu tảo chứ không áp dụng quan niệm “cho ăn nhiều một chút để gây tảo”.

(ii) Theo sát đàn tôm, thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khỏe của tôm nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường:

Thường xuyên kiểm tra chất lượng nước, mật số tảo và mật độ vi khuẩn trong nước nuôi cũng như trên gan tụy tôm. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nước ao toàn cho tôm khi mật số vi khuẩn trong nước thấp hơn 102 CFU/mL.

Đặt vó ngay từ ngày đầu tiên thả tôm. Thăm vó thường xuyên nhằm xác định kích cỡ tôm và khả năng bắt mồi. Kết hợp thăm đáy ao (kiểm tra giun đáy), nước ao (kiểm tra copepod), mật độ tảo để xác định thời điểm tăng thức ăn thích hợp.

Lưu ý:

Khi tôm vào giai đoạn ấu niên (3 – 4cm) chúng ăn mồi nhanh và mạnh làm cho lượng thức ăn tăng lên rất nhanh trong một thời gian ngắn nên lúc này phải luôn có nước dự trữ để cấp vào nhằm làm loãng nước ao nuôi tránh phát sinh độc chất do sự gia tăng vật chất hữu cơ quá nhanh trong thời gian ngắn.

Cho ăn dư thừa là nguyên nhân gián tiếp gây bệnh cho tôm (làm tăng tích lũy NH3, H2Svà tăng sinh vi khuẩn có hại).

6. Xử lý tôm bệnh

Khi tôm chết trong khoảng trên dưới 1 tháng tuổi với các dấu hiệu:

  • Đục cơ, trắng cơ
  • Mềm vỏ, ốp thân

Nên:

  • Dừng cho ăn từ 5 – 7 ngày. Chỉ cho tôm ăn lại khi thấy tôm khỏe vào vó và tôm đã dừng chết.
  • Hạn chế vi khuẩn trong môi trường bằng cách ngay lập tức diệt khuẩn nước nuôi. Có thể dùng Potassium peroxymonosulfate với liều 1ppm hoặc Iodin 10% với liều 1ppm. Nếu tôm nhiễm khuẩn nặng có thể xử lý liên tục 4 ngày.
  • Bón vôi giữ pH sáng chiều ổn định, bổ sung khoáng.
  • Sau khi diệt khuẩn 1 ngày, bổ sung men-vi sinh xử lý nước liều gấp hai.
  • Khi cho tôm ăn lại, có thể bổ sung beta-glucan, vitamin và khoáng vào thức ăn. Tôm đã nhiễm EMS/AHPND có gan tụy và ruột hư hoại nặng, nên hạn chế cho ăn quá nhiều thức ăn. Việc bổ sung axit hữu cơ vào thức ăn nhằm ức chế vi khuẩn nên được thực hiện từ đầu, tránh dùng như một liệu trình điều trị.

Nếu tôm sau khi tái hồi phục mà bị chết tiếp đợt hai thì nên thu ngay lập tức.

Nguồn: Theo Tổng hợp - nghetomtep.com
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác về email [email protected]
Nhấn nút "quan tâm" nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.
CompactDry-VP

Bình luận bài viết